DancoTravel » Du lịch nước ngoài | Du lịch trong nước

Cẩm nang du lịch Miền Bắc

NHỮNG ĐỊA DANH DU LỊCH HÀ NỘI KHÓ CÓ THỂ BỎ QUA

Quảng Trường Ba Đình hà Nội: Hà Nội trong trái tim của nước Việt Nam thì quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Vì tại đây đã diễn ra những sự kiện quan trọng của thủ đô và cũng là cả nước

THÀNH THĂNG LONG ĐẦU ĐỜI NGUYÊN - HÀ NỘI 

Thành Thăng Long đầu đời Nhà Nguyễn: Thừa cơ Quang Trung đã mất và dựa vào sức của thực dân Pháp, Nguyễn Ánh tức Gia Long chiếm toàn bộ lãnh thổ nước ta, lên làm vua, đóng đô ở Phú Xuân tức Thuận Hóa (Huế). Lúc đầu một số thần hạ của Nguyễn Ánh như bọn Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, cũng xin đóng đô ở Thăng Long, là kinh đô của các đời vua truyền nối nhau gót ngàn năm đã được coi là chính cống. Nhưng Gia Long không nghe, lấy cớ Thuận Hóa ở giữa nước, lại là nơi căn bản khia cơ lập nghiệp của tổ tiên nhà Nguyễn 300 năm. Nhưng còn một cớ nữa là Gia Long không dám nói ra, là sợ nhân dân miền bắc không thực lòng quy phục. Vì nhận thấy lòng dân Bắc Hà, vẫn còn tưởng nhớ công đức vị anh hùng dân tộc Lê Lợi, cơ nghiệp nhà Lê nhờ đó mấy lần nguy mà vẫn giữ được, còn họ Trịnh chiếm luôn quyền vị thn trị hơn 200 năm, một chuốc lại bị lật đi nữa vì họ Nguyễn đối với nền Bắc chẳng có mảy may công đức gì? Vì vậy năm 1802, sau khi thu phục Bắc Thành, Gia Long lại trở về ngay Thuận Hóa. Rồi đến cuối 1803, Gia Long mới trở lại bắc tuy lấy danh nghĩa là đi tuần thú, nhưng kỳ thực để làm lễ nhận sắc phong vương của sứ thần nhà Mãn Thanh. Ngay từ lúc đầu, Gia Long đã chỉ lấy thành Thăng Long làm lỵ sở của bắc Thành, cử Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn. 
Đã không đóng quân ở Thăng Long, thì danh xưng và ý nghĩa của thành cũng phải thay đổi. Theo một bản sớ tấu của bọn triều thần đã đón ý Gia Long mà dâng lên, thì cho rằng không có nhà vua ở nữa thì không được gọi là Hoàng Thành và cái tên Thăng Long thì không được dùng chữ long là rồng, vì rồng tượng trưng cho vua, phải đổi chữ long là thịnh, tức là chỉ có nghĩa thịnh vượng thường mà thôi. Việc ấy đã được Gia Long cho thi hành ngay. 
Sang năm Gia Long thứ 3 (1804) bọn triều thần dâng sớ nói: thành Thăng Long hiện có dấu ấn của Tây sơn là “ ngụy triều” lại không còn là hoàng thành thì không nên để to rộng như thế nữa. Gia Long nghe theo lời, sang năm thứ tư, hạ chiếu phá bỏ thành cũ, xây dựng thành mối theo kiểu Vauban của pháp- rút hẹp được phạm vi nhỏ, làm thành một hình vuông mỗi bề chỉ dài 1 cây số. Thân thành cả bốn mặt đều xây dựng thứ gạch hộp, chân thành dưới cùng là đá xanh rồi đến đá ong. Theo kích thước ta ngày xưa nói thân thành dài suốt là 1.258 trượng 6 thước 5 tấc, cao 1 trượng, 1 thước, dày 4 trượng. 
Chung quanh thành mở ra 5 cửa: chính đông, chính tây, chính bắc và đông nam, tây nam. Cửa nào cũng cao 1 trượng 3 thước, rộng 1 trượng. Trên mỗi cửa đều có xây vòm canh gọi là thú lâu, đều có một cơ binh, ngày đêm thay nhau canh giữ. Ngoài các cửa thành, lại có một hàng thang nhỏ đắp liền trên bờ hào, gọi là Dương Mã Thành. Các Dương Mã Thành đều cao 7 thước 5 tấc, rộng trượng 9 thước và đều có một cửa rộng 1 trượng gọi là Nhân Môn. Ngoài các cửa này,mặt hào đều rộng 8 trượng, còn ơ chung quanh hào thì rộng 5 trượng, bao giờ cũng có nước sâu tới 6 thước.

CHÙA MỘT CỘT - HÀ NỘI

Chùa Một Cột Hà Nội: Chùa này nằm ở phía tây thủ đô, thuộc thôn Ngọc Thanh, khu Ngọc Hà. Nơi đó nguyên có một cái hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một tòa chùa ngói nhỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, người ta gọi là chùa Nhất Trụ hay là chùa Chùa Một Cột. 
Chùa xây từ năm 1049, tức là năm 1049, tức là năm đầu tiên Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tôn nhà Lý. Tục truyền khi ấy vua Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thy đức phật Quan Âm, hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đức con trai đưa cho nhà vua. Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sia lập chùa Một Cột để thờ Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tậphàng trăm ngàn tăng ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày bảy đêm và lập thêm mộ ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư phật, gọi là chùa Diên Hựu. 
Năm 1105,vua Nhân Tôn nhà Lý cho sửa chữa dựng lên một cây tháp bằng đá trắng gọi là tháp Bạch Tuyết, cao 13 trượng ở trước chùa Diên Hựu. Từ tháp Bạch Tuyết vào chùa Một Cột đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày rằm, nhà vua cùng các hậu phi, cung tần và cận thần tới chùa lễ phật. Đặc biệt là hàng năm cứ đến ngày tám tháng tư là ngày phật sinh, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay sạch, ngày hôm sau làm lễ tắm phật. Rất đông tăng ni và nhân dân các nơi toi dự, làm nên ngày hội lớn hàng hăm ở thủ đô. Ngày ấy, trước chùa lại có một lễ hội lớn gọi là lễ phóng sinh. Lễ tắmphật xong rồi, nhà vua, đứng lên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay tới đi rồi các tăng ni và các nam nữ thin tín, đùa nhau mỗi người thả một con, bóng bay rợp trời. 
Năm 1922, trường Viễn Đông bác Cổ có sửa chữa lại giữ theo đúng như quy chế cũ. 
Đêm ngày 11/9/1954, tay sai của thực dân Pháp, trước khi phải giao trả thủ đô cho chính phủ và nhân dân ta, đã cố ý đặt mìn để phá hoại chùa Một Cột. Ngay sau khi tiếp quản thủ đô, chính phủ ta đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại ngay, tháng 4/1955, chùa Một Cột lại được hoàn nguyên như cũ. Từ đầu năm 1958, cây b đề của đất phật Ấn Độ kính tặng Hồ Chủ Tịch nhân dịp người đi thăm Ấn Độ được đem trồng trong chùa. 
Nói đến chùa Một Cột này, có một việc cần phải nói rõ là: chúng ta đọc sử về đời Lý- Trần vẫn thấy nói đến “ An Nam tứ khí” nghĩa là bốn thứ kiến trúc lớn ở nước Nam, mà quả chuông Quy Điền ( quả chuông ở ruộng rùa) tức là quả chuông ở trước chùa Một Cột là một. 
Theo sử cũ chép: cũng về đời nhà vua Nhân Tôn nhà Lý, vào năm Long Phù thu tám (1108) nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời) để treo ở chùa Diên Hựu, định mỗi khi đánh một tiếng chuông, tiếng sẽ vang đi mấy đặm. Xây một tòa phương đình toàn bằng đá xanh, cao 8 trượng, trên nóc đình bắc những dõng sắt to để treo chuông. Xây đình và đúc chuông, hơn một trăm năm mới xong, hàng ngày các nơi phải thay nhau đưa dân phu đến phục dịch. Thân hình quả chuông không biết to lớn thế nào, nên đánh không kêu. Rồi bao nhiêu lần dồn ép hàng ngàn người xúm vào ra sức vần xoay, lết cục chỉ vật ngã được quả chuông lăn kềnh trên mặt ruộng. lúc đầu người ta còn làm mái che chuông, lâu ngày chẳng ai đoái hoài, mặc cho chuông nằm phơi mưa gió. Nơi chuông nằm lại vốn là một ruộng nước, lòng chuông trở thành cái tổ êm ấm cho từng đàn rùa chui ra chiu vào. Vì vậy chuông lại được mang tên là chuông ruộng rùa. 
Bài thơ Vịnh Chuông Quy Điền của một nhà thơ đời cuối Trần đã phê bình việc làm của vua Lý chỉ là vô ích mà lại có hại. Bài thơ thuật theo đại ý như sau: 

Hơn vạn cân đồng tốn của kho 
Bày trò vua Lý đúc chuông to 
Lợi giặc nước gây tai vạ 
Phúc được bao nhiêu tội mấy bồ
 

Về sự tích chùa Một Cột này lại có một truyền thuyết nói rằng: bà Linh Nhân thái hậu vợ vua Thái Tôn nhà Lý, không sinh đẻ, tính lại cả ghen, bà sai thái giám bắt giam 72 cung nữ có nhan sắc thường được chầu hầu nhà vua, giam vào phòng tối ở cung Thượng Dương, tới khi vua Thái Tôn mất, bà lại bắt 72 người ấy chịu chôn sống để chết theo vua. Sau bà hối hận, dựng 72 ngôi chùa để siêu độ các oan hồn. Chùa Một Cột này là một trong 72 ngôi chùa ấy. 
Trong thực tế, chùa Một Cột đã qua nhiều lần trùng tu. Một dấu mốc đáng tiếc cho chùa là ngà 11/9/1954, trước khi rút khỏi Hà Nội, Pháp đã cho nổ mìn phá hủy Liên Hoa đài. Khi chính phủ ta tiếp quản Hà Nội đã cho xây dựng lại như lúc đầu. Tháng 4/1955 thì công trình hoàn tất nhưng phần nào đã mất đi những đường nét kiến trúc cổ của chùa. 
Cây bồ đề trước chùa là nhân chứng cho mối quan hệ hữu nghị thắm thiết giữa hai dân tộc Việt Nam- Ấn Độ. Cây bồ đề này do tổng thống Ấn Độ Prasat tặng bác năm 1958 trong dịp bác thăm Ấn Độ. Cây này được chiết nhánh từ cây bồ đề tương truyền là nơi đức phật thích ca thành phật cách đây 25 thế kỷ. Có thể nói rằng chùa Một Cột là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất Việt Nam tuy quy mô không lớn nhưng chúng ta có thể tự hào về lối kiến trúc cổ độc đáo và mang đậm những dấu ấn lịch sử dân tộc.

QUẢNG TRƯỜNG BA ĐÌNH - HÀ NỘI

Quảng Trường Ba Đình hà Nội: Hà Nội trong trái tim của nước Việt Nam thì quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Vì tại đây đã diễn ra những sự kiện quan trọng của thủ đô và cũng là cả nước. Nguyên nơi đây vốn là khu vực cửa Tây của thành Hà Nội cổ. Đầu thời Pháp thuộc, thực dân pháthành, làm một vườn hoa nhỏ nơi ơ đây gọi là điểm tròn Puginier. Năm 1945, mới có tên là vườn hòa Ba Đình. Chữ Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hóa mới đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9/1886 đến tháng 1/1887. 
Ngày 2/9/1945, nửa triệu đồng bào Hà Nội và phụ cận đã đổ về quảng trường này để dự lễ Độc Lập. Lễ đài dựng giữa quảng trường, bốn mặt hình thang phủ vải đỏ, ở giữa có hình nổi ngôi sao vàng năm cánh. 
Ngày 6/9/1969, sáu ngày sau khi Hồ Chủ Tịch qua đời, cũng tại quảng trường này, lễ truy điệu Người đã được cử hàng trọng thể. Mười vạn đồng bào Thủ Đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới dự lễ. Ngày nay, mặt chính của quảng trường – mặt tây là lăng Hồ Chủ TỊch, trước lăng là quảng trường với 320m chiều dài và 100m bề ngang, đủ chỗ cho 20 vạn người dự meeting. Thêm vào đó là 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi mỗi ô rộng 81m², lối đi giữa mỗi ô là 1,4m, ở giữa quảng trường là cột cờ cao 25m. quảng trường Ba Đình đãtrở thành không gian thiêng liêng của thủ đô Hà Nội.

LĂNG HỒ CHỦ TỊCH - HÀ NỘI

Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Song song với việc giữ gìn lâu đài thi hài bác. Trung ương rất quan tâm tới việc xây dựng lăng mộ của Người. Quan điểm yêu cầu xây lăng một được thống nhất trên tinh thần tính hiện đại, dân tộc, trang nghiêm nhưng giản dị và thuận tiện cho nhân dân vào thăng lăng. Lăng nằm gần ở Quảng Trường Ba Đình là trung tâm trong tổng thể các di tích lịch sử: Quảng Trường Ba Đình, khu lưu niệm Bác ở Phủ Chủ Tịch và các khu vực tiếp giáp, đặc biệt sau này có thêm bảo tàng Hồ Chí Minh như một bông sen trắng nổi lên tô đẹp thêm quần thể các di tích đặc biệt về Bác. Vấn đề xây lăng mộ cho bác được các cơ quan cao nhất của Đảng và Nhà Nước ta đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó Đảng và Chính Phuủ Liên Xô hết lòng giúp đỡ, xem đây là một trách niệm lớn lao và quang vinh với Bác Hồ kính yêu. 
Từ ngày đầu Liên Xô đã cử các đoàn chuyên gia sang cùng ta trao đổi kinh nghiệm xây lăng mộ, cùng bàn bạc chân tình cởi mở từ bản dự thảo “nhiệm vụ thiết kế” đến giử sang giúp ta trang thiết bị trong lăng. Liên Xô huy động nhiều cơ quan, viện nghiên cứu cùng một tập thể các nhà khoa học tài năng ngày đêm khẩn trương hoàn chỉnh các tài liệu về các phương án thiết kế, với một khối lượng công việc đồ sộ, thể hiện kết quả cao nhất của tri thức khoa học tiên tiến và tình cảm đặc biệt đối với Bác Hồ. Hướng về Bác Hồ kính yêu từ tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam, ai cũng muốn góp phần công sức của mình để được xây dựng lăng Bác. Từ tập thể các kiến trúc sư đến những chiến sĩ công binh, từ mỗi người dân đều muốn tìm một kỷ vật gì đó mong được góp phần xây lăng, đến các chiến sĩ quân giải phóng vừa đánh giặc vừa tìm gỗ quý gửi ra miền Bắc xây lăng. Tất cả dân tộc hướng về Bác nhân dân dịp xây lăng đ tỏ tấm lòng thành trước Bác, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước công lao trời biển của bác dành cho dân tộc. 
Thể theo nguyện vọng của nhân dân để mỗi người dân đều góp ý kiến về việc xây lăng. Trung ương quyết định mở đợt sáng tác mẫu thiết kế lăng và ở các địa phương đều tổ chức trưng bày các mẫu sáng tác để lấy ý kiến nhân dân. Tổng kết đợt lấy ý kiến nhân dân có tới 745.487 lượt người tham gia, trong đó có 34.022 lượt người ghi ý kiến đóng góp. Nhiều thiết kế lăng bác được các tác giả tham khảo kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm trong lịch sử kiến trúc dân tộc. Trên thế giới, có nhiều công trình tưởng niệm lăng một vĩ đại, thể hiện tính dân tộc như mộ các vya Pharaol - thể hiện tính dân tộc sâu sắc Kim Tự Tháp Ai Cập… có phương án lấy chủ đề tư tưởng “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”. Bác sinh ra từ làng sen, lăng bác được thể hiện như một khối bông sen cách điệu. Có phương án khá độc đáo: tại khu Ba Đình đắp một quả đồi khoảng chừng một triệu mét khối đất, xây lăng bác trên quả đồi này. Trên đỉnh lăng có thiết kế như một lầu thờ, xung quanh là hồ nước và cây xanh, rất nhiều ý kiến đồng phương án này vì cho rằng nơi tưởng niệm các vua Hùng cùng trên đồi cao, hàng năm nhân dân sẽ đến trồng cây tưởng nhớ Bác. Hơn nữa, quả đồi cao từ xa có thể thấy phần lăng Bác, lầu thơ trong phảng phất “Khuê Văn Các”, đường nét cổ kính phù hợp với những cấu trúc hiện đại. Cuối cùng phương án chính chọn có sự kết hợp nhiều phương án tổng hợp lại: khối chính của lăng đặt trên bệ tam cấp gần gũi thân thuộc phong cách kiến trúc người Việt, thân lăng gợi hình dáng ngôi nhà giản dị 5 gian như bao ngôi nhà của người dân Việt Nam. Bậc tam cấp được làm ở mái lăng có hình vát, gợi lên đường nét kiến trúc cổ kính đình làng nơi hội tụ của mỗi tâm hồn quê hương.

HỒ HOÀN KIỀM - HỒ GƯƠM - HÀ NỘI

Hồ Hoàn Kiếm: Thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. 
Ðặc điểm: Hồ Hoàn Kiếm được coi là hòn ngọc của Thủ đô, hay như du khách nước ngoài gọi là "Lẵng hoa giữa lòng thành phố". 
Theo các nhà khoa học hồ là một đoạn sót lại của sông Hồng sau khi sông đã chuyển dòng như hiện nay. Sự việc sông nước biến thiên ấy diễn ra cách đây vài nghìn năm. Trước đây hồ có tên là Lục Thủy vì sắc nước bốn mùa xanh. Thế kỉ 15, hồ Lục Thủy đổi tên là hồ Hoàn Kiếm. Cái tên Hoàn Kiếm gắn liền với câu chuyện trả gươm cho rùa vàng của vua Lê Thái Tổ. 
Hồ Hoàn Kiếm không chỉ là một nơi hóng gió, dạo mát mà còn gắn liền với đời sống người dân Thủ đô về nhiều phương diện. Đêm giao thừa, người người nô nức du xuân quanh hồ. Xuân về, hồ là nơi gặp gỡ của thiện nam tín nữ đi lễ các đền chùa lân cận. Các đôi uyên ương trong ngày cưới tìm đến bên hồ để chụp ảnh lưu niệm. Hè đến, những buổi chiều oi bức, hồ là địa điểm hóng mát lý tưởng. 
Ai đã từng một lần ngắm hồ từ trên cao vào đầu hạ sẽ không khỏi thảng thốt trước bức tranh đầy màu sắc và nên thơ của những cây bằng lăng tím rạng rỡ xen giữa những phượng cháy đỏ rực, những cơm nguội chín vàng. Mùa thu, hồ Hoàn Kiếm không chỉ là một thắng cảnh đẹp với những rặng liễu rủ bên bờ, những tàng cây ngả xuống vòng tay ôm lấy mặt nước hồ biếc xanh màu ngọc lấp lánh nắng vàng mà còn là nơi nhân dân thủ đô lui tới để xem pháo hoa nhân những ngày hội lớn của dân tộc như 19/8 và 2/9. 
Những di tích lịch sử độc đáo như tháp Rùa, tượng vua Lý Thái Tổ, đền Ngọc Sơn, đài Nghiên, tháp Bút, đền Bà Kiệu, chùa Bà Đá... và những công trình kiến trúc hiện đại mới được xây dựng luôn đảm bảo kết hợp hài hòa với cảnh quan vốn có quanh hồ. Hồ Hoàn Kiếm với đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và tháp Rùa lung linh bóng nước là hình ảnh của thủ đô Hà Nội trong mỗi trái tim người Việt Nam.

Các tin khác: