DancoTravel » Du lịch nước ngoài | Du lịch trong nước

Cẩm nang du lịch Mỹ

Thông tin xin visa vào Mỹ

Thông tin xin visa vào Mỹ cung cấp các câu hỏi thường xuyên gặp phải khi phỏng vấn visa vào Mỹ hay thủ tục giấy tờ xin visa đi Mỹ


Những câu hỏi thường gặp KHI DỰ PHỎNG VẤN XIN VISA Mỹ


1. Tôi không thể tham dự phỏng vấn theo lịch hẹn.  Tôi có thể xin phỏng vấn vào một ngày khác được không?

Kể từ ngày 29 tháng 3 năm 2008, tất cả những đơn xin cấp thị thực phải được đăng ký, thay đổi, hoặc huỷ trên mạng thông qua trang web của Lãnh sự quán (nhấp vào trang “Thủ tục nộp đơn xin thị thực” để được hướng dẫn). Sau khi đăng ký hẹn phỏng vấn, đương đơn có thể thay đổi hoặc huỷ cuộc hẹn vào bất kỳ thời gian nào thông qua trang web của chúng tôi. Trên trang đăng ký cuộc hẹn, chỉ cần nhấp vào thẻ “Thay đổi/Hủy cuộc hẹn”, nhập vào họ tên của đương đơn và số xác nhận ID chính thức (lưu ý: ID phân biệt chữ hoa thường (case-sensitive)).

2. Tôi nói tiếng Anh không tốt lắm. Tôi có thể trả lời phỏng vấn bằng tiếng Việt được không?

Có thể. Các viên chức Lãnh sự đều được đào tạo để phỏng vấn bằng tiếng Việt. Bên cạnh đó, chúng tôi còn sắp xếp nhân viên địa phương phiên dịch cho các đương đơn.

3. Thân nhân hoặc luật sư đại diện của tôi có thể tham dự buổi phỏng vấn xin cấp thị thực của tôi hay không?

Theo thông lệ quốc tế, không một bên thứ ba nào được phép tham dự buổi phỏng vấn xin thị thực không di dân. Quy định này cũng áp dụng cho các bên thứ ba là Công dân Mỹ hoặc Thường Trú Nhân Tại Mỹ . Nếu một bên thứ ba nào đó quan tâm đến trường hợp của đương đơn, vui lòng đề nghị họ viết thư nói rõ mối quan tâm của họ và đương đơn nên mang theo thư này khi đến phỏng vấn. Những đương đơn nhỏ tuổi có thể đi kèm với ba/mẹ hoặc một người giám hộ hợp pháp khi đến phỏng vấn. 

4. Các đại lý dịch vụ thị thực có thể giúp tôi xin được thị thực hay không?

Không. Đương đơn đừng bao giờ trả tiền cho bất kỳ người nào cho rằng họ có thể giúp bạn có được thị thực. Đương đơn cũng không nên trả tiền làm giấy tờ giả mạo vì các viên chức Lãnh sự của chúng tôi được đào tạo những kỹ năng phát hiện giấy tờ giả.

5. “Những ràng buộc tại Việt Nam” được hiểu như thế nào?

“Những ràng buộc” là các khía cạnh cuộc sống của đương đơn ràng buộc đương đơn với nơi mình cư trú, bao gồm các mối quan hệ gia đình, công việc và tài sản. Trong trường hợp những đương đơn nhỏ tuổi chưa thể thiết lập được những ràng buộc nói trên, viên chức phỏng vấn sẽ xem xét trình độ học vấn, điểm số học tập, nghề nghiệp của cha mẹ, và những kế hoạch dài hạn cũng như triển vọng của đương đơn ở Việt Nam. Vì mỗi đương đơn mỗi hoàn cảnh khác nhau, do đó sẽ không có bất kỳ câu trả lời mẫu nào chứng minh được những ràng buộc này.

6. Nếu như tôi có một lá thư từ một người có chức quyền bảo đảm việc quay trở về Việt Nam của tôi, tôi có được cấp thị thực hay không?

Một lá thư, kể cả từ người có chức quyền, không nhất thiết chứng minh được những ràng buộc của đương đơn bên ngoài phạm vi nước Mỹ. Luật pháp Mỹ yêu cầu mỗi đương đơn phải tự mình thuyết phục viên chức phỏng vấn bằng khả năng của chính mình.

7. Có tốt hơn nếu tôi che giấu việc tôi có bà con thân thuộc đang sinh sống tại Mỹ, hoặc tôi có hồ sơ bảo lãnh định cư, hoặc tôi đã bị từ chối cấp thị thực trước đây? Sẽ có hậu quả gì xảy ra nếu như tôi giấu giếm, khai báo sai lệch hoặc nộp giấy tờ giả mạo?

Việc khai báo thành thật, rõ ràng là tốt nhất. Chúng tôi hiểu rằng rất nhiều đương đơn có gia đình, bà con đang sinh sống tại Mỹ, nhưng đương đơn chỉ muốn thăm viếng họ trong thời gian ngắn cũng như đương đơn đang có hồ sơ bảo lãnh nhưng chưa có ý định định cư tại Mỹ vào thời điểm này. Do đó, tốt nhất đương đơn nên khai báo thành thật tình trạng của mình. Khi viên chức phỏng vấn phát hiện đương đơn cố tình giấu giếm hoặc cung cấp thông tin sai lệch, đương đơn sẽ bị từ chối cấp thị thực và, trong một số trường hợp, đương đơn sẽ vĩnh viễn không được phép nhập cảnh vào Mỹ.

8. Nếu tôi có đầy đủ các giấy tờ cần thiết, tôi có được cấp thị thực hay không?

Không nhất thiết như vậy. Viên chức phỏng vấn phải áp dụng điều khoản 214(b) của Bộ Luật Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (INA) để quyết định xem đương đơn có đủ điều kiện được cấp thị thực hay không. Một phần điều khoản này nêu rằng:

Mỗi ngoại kiều (đương đơn xin thị thực) chắc chắn sẽ được coi như có ý định nhập cư cho đến khi đương đơn, vào thời điểm xin cấp thị thực, thuyết phục được viên chức lãnh sự rằng đương đơn hội đủ điều kiện được cấp thị thực không di dân. . .

Điều này có nghĩa là viên chức lãnh sự xem xét trường hợp của đương đơn dựa trên tinh thần của điều luật, luôn xem rằng đương đơn có ý định định cư tại Mỹ cho đến khi đương đơn chứng minh được điều ngược lại. Đương đơn có thể đưa ra những chứng cứ dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng khi tổng hợp lại, những chứng cứ này phải đủ để viên chức phỏng vấn đánh giá được hoàn cảnh chung của đương đơn và tin rằng những mối ràng buộc về xã hội, gia đình, kinh tế và các ràng buộc khác của đương đơn tại Việt Nam là lý do buộc đương đơn phải rời khỏi Mỹ sau khi kết thúc thời gian lưu trú tạm thời. Đương đơn nên chuẩn bị để trình bày trường hợp của mình thật rõ ràng và ngắn gọn. Đương đơn có thể yêu cầu buổi phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh.

9. Tại sao cuộc phỏng của tôi quá ngắn? Viên chức chỉ hỏi tôi một vài câu hỏi và hầu như không xem đến các giấy tờ của tôi.

Trong một ngày làm việc điển hình, một viên chức Lãnh sự có thể phải phỏng vấn 80 đương đơn hoặc nhiều hơn, do đó mỗi đương đơn chỉ có thể được phỏng vấn trong một vài phút. Tuy nhiên, mẫu đơn xin thị thực của đương đơn, nếu được điền đầy đủ, đã bao gồm hầu hết các thông tin cần thiết để xét cấp thị thực. Viên chức Lãnh sự chỉ xem xét các giấy tờ bổ sung khi cần làm sáng tỏ hơn nữa hoàn cảnh của đương đơn.

10. Tôi có thể ở Mỹ được bao lâu đối với loại thị thực công tác hoặc du lịch (B1/B2)?

Thị thực được xem như giấy phép nhập cảnh vào Mỹ. Có sự khác nhau giữa hiệu lực của thị thực (tối đa là một năm đối với các đương đơn quốc tịch Việt Nam) và thời hạn được phép lưu trú tại Hoa Kỳ (có thể trong một vài ngày). Ngày hết hạn của thị thực là ngày mà đương đơn phải nhập cảnh vào Mỹ. Viên chức Bộ An Ninh Nội Địa Mỹ (DHS) tại cửa khẩu nhập cảnh, không phải viên chức Lãnh sự, sẽ quyết định thời gian đương đơn được phép lưu trú tại Hoa Kỳ. Bộ An Ninh Nội Địa Mỹ thường cho phép đương đơn ở lại Mỹ trong thời gian cần thiết để hoàn thành mục đích của chuyến đi.

Nếu đương đơn muốn gia hạn thời gian lưu trú tại Mỹ, đương đơn phải gửi đơn xin gia hạn đến văn phòng Sở Di Trú Hoa Kỳ (USCIS). Các hình phạt sẽ được áp dụng đối với đương đơn nào ở lại Mỹ quá thời hạn cho phép. Việc “ở quá hạn” thậm chí chỉ trong một ngày cũng có thể gây ảnh hưởng rất xấu đến cơ hội được cấp thị thực trong tương lai.

11. Với thị thực công tác hoặc du lịch, tôi có thể làm gì ở Mỹ?

Thị thực du lịch là thị thực được cấp cho các đương đơn lưu trú tạm thời ở Mỹ với mục đích công tác hoặc du lịch. “Công tác” nói chung không bao gồm các công việc sinh lợi nhuận, nhưng bao gồm hầu hết các hoạt động thương mại hợp pháp khác. Một đương đơn được cấp thị thực công tác có thể đến Mỹ để trao đổi với các hiệp hội thương mại, thương lượng ký kết hợp đồng, mua hàng hóa hay nguyên vật liệu, giải quyết vấn đề tài sản, làm nhân chứng trong một phiên tòa, tham dự các hội nghị chuyên ngành hoặc hội thảo, hay thực hiện các cuộc nghiên cứu độc lập.

“Du lịch" bao gồm các hình thức tham quan, thăm bạn bè, thân nhân, chữa bệnh, tham dự các hội nghị, hội thảo, hoặc các hội kín hay các tổ chức xã hội, tham gia các buổi biểu diễn nghiệp dư không nhận thù lao ở các lĩnh vực âm nhạc, thể thao, và tham dự các sự kiện hay cuộc thi tương tự khác.

Tại cuộc phỏng vấn xin thị thực, đương đơn phải có khả năng giải thích thật rõ ràng lý do muốn đến Mỹ. Viên chức phỏng vấn sẽ dựa vào đó quyết định loại thị thực thích hợp cho mỗi đương đơn.

12. Tôi là công dân Việt Nam. Tôi có thể nộp đơn xin cấp thị thực không di dân tại Đại Sứ Quán/Lãnh Sự Quán Mỹ ở nước khác được không?

Có thể. Tuy nhiên, chúng tôi không khuyến khích đương đơn xin cấp thị thực không di dân vào Mỹ tại một nước thứ ba như Thái Lan, Malaysia, v.v… bởi vì rất khó khăn cho các viên chức Lãnh sự ở những quốc gia này đánh giá được những ràng buộc của đương đơn đối với đất nước của họ và thường là các viên chức sẽ từ chối cấp thị thực và thông báo cho đương đơn nên nộp đơn tại quốc gia mà đương đơn đang cư trú.

13. Tôi kết hôn với một công dân Mỹ. Tôi có thể nộp đơn xin cấp thị thực du lịch đến Mỹ để thăm chồng/vợ tôi tại Lãnh sự quán Mỹ hay không?

Có thể. Tuy nhiên, sẽ rất khó khăn cho các đương đơn chứng minh cho viên chức phỏng vấn tin rằng đương đơn chỉ có ý định đến Mỹ trong thời gian ngắn, đây cũng chính là điều kiện cần để được cấp thị thực du lịch. Các viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao Mỹ khi xem xét các đơn xin cấp thị thực không di dân phải tuân theo tinh thần của điều luật và luôn cho rằng tất các đương đơn đều có ý định nhập cư vào Mỹ cho đến khi các đương đơn chứng minh được điều ngược lại. Nếu đương đơn nào bày tỏ ý định sẽ định cư trong tương lai gần, điều đó sẽ vô cùng khó khăn cho đương đơn để chứng minh được rằng đương đơn sẽ không ở lại Mỹ sau khi nhận được thị thực du lịch. Hầu hết các đương không thể trình bày được “ý định kép” (có nghĩa là “vâng, tôi sẽ đi định cư, nhưng chưa phải tại thời điểm này), một lý do khiến đương đơn rất khó hội đủ điều kiện để được cấp thị thực du lịch.  

14. Đơn xin cấp thị thực của tôi bị từ chối. Tôi phải làm gì để xin cứu xét cho trường hợp bị từ chối cấp thị thực?

Theo các chuẩn mực toàn cầu, bất kỳ đơn xin cấp thị thực không di dân nào, một khi đã bị từ chối theo Điều khoản 214(b), sẽ không được xem xét hoặc cứu xét lại cho đến khi đương đơn đó xin tái phỏng vấn. Qui trình đúng cho việc xin cứu xét trường hợp thị thực bị từ chối là đương đơn phải xin tái phỏng vấn để một viên chức Lãnh sự khác xem xét lại đơn xin cấp thị thực của mình. Đương đơn phải đóng lại lệ phí xin cấp thị thực và đăng ký ngày hẹn phỏng vấn mới. Xin lưu ý rằng chúng tôi luôn khuyến cáo các đương đơn đã hơn một lần bị từ chối gần đây KHÔNG nên nộp đơn tái phỏng vấn trừ phi hoàn cảnh của đương đơn có sự thay đổi đáng kể, nếu không, kết quả cũng sẽ không thay đổi.

15. Hộ chiếu của tôi đã hết hạn, tuy nhiên thị thực được phép ra vào nước Mỹ nhiều lần vẫn còn giá trị và tôi đã có hộ chiếu mới. Vậy tôi có phải xin lại thị thực mới hay không?

Đương đơn không cần xin lại thị thực khác mà có thể mang theo hộ chiếu cũ và hộ chiếu mới để đến Mỹ .

16. Tôi có thể mua vé máy bay trước khi thị thực được cấp?

Đương đơn không nên mua vé máy bay trước khi được cấp thị thực. Vui lòng không sắp xếp bất kỳ kế hoạch bắt buộc nào cho đến khi nhận được thị thực.

Những câu hỏi thường gặp về MẪU ĐƠN XIN THỊ THỰC ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN DS-160


1. Tôi có thể tìm mẫu đơn DS-160 ở đâu?

Ông/bà có thể tìm mẫu đơn DS-160 tại trang web Trung tâm Đơn điện tử của Lãnh Sự hoặc từ đường dẫn ở trang web của Đại Sứ Quán hoặc Lãnh Sự Quán nơi ông/bà nộp đơn xin thị thực được liệt kê trên trang thông tin về mẫu đơn DS-160.

2. Tôi có thể trả lời những câu hỏi trong đơn bằng tiếng mẹ đẻ được không?

Không. Tất cả các đương đơn phải trả lời câu hỏi bằng tiếng Anh và chỉ được sử dụng ký tự tiếng Anh, ngoại trừ có trường hợp đặc biệt nào khác được quy định trên đơn. Những đương đơn nào không điền đơn bằng tiếng Anh sẽ không được chấp thuận, và có thể được yêu cầu nộp mẫu đơn mới.

3. Có phải tất cả các trường dữ liệu trong mẫu đơn DS-160 đều là bắt buộc?

Hầu hết các trường dữ liệu trong mẫu đơn DS-160 là bắt buộc. Ông/bà có thể bỏ qua các trường dữ liệu “Tuỳ chọn”. Một số trường dữ liệu cũng cung cấp cho ông/bà tùy chọn “Không áp dụng” (“Does Not Apply”) để ông/bà lựa chọn. Nếu trường dữ liệu đó không áp dụng cho trường hợp của ông/bà, ông/bà có thể đánh dấu vào ô kế bên trường dữ liệu “Không áp dụng” (“Does Not Apply”). Tất cả những trường dữ liệu khác đều phải được điền hoàn tất: đơn của ông/bà sẽ không được chấp nhận nếu như ông/bà để trống bất kỳ trường dữ liệu bắt buộc nào trong đơn. Trong trường hợp này, thông tin báo lỗi sẽ hiện lên trên màn hình và ông/bà sẽ được yêu cầu điền hoàn tất trường dữ liệu này trước khi tiếp tục điền đơn. Nếu như ông/bà không trả lời tất cả những câu hỏi được yêu cầu, mẫu đơn của ông/bà có thể cũng sẽ không được chấp nhận.

4. Điều gì sẽ xảy ra nếu như tôi bỏ máy không sử dụng trong lúc đang điền đơn nửa chừng?

Nếu như trong lúc đang điền đơn, ông/bà không sử dụng máy tính khoảng 20 phút, quá trình điền đơn DS-160 sẽ bị “tạm ngưng” (time out). Tính năng “tạm ngưng” được thiết kế để bảo mật thông tin cá nhân của ông/bà. Nếu như quá trình điền đơn bị tạm ngưng, toàn bộ thông tin đăng nhập sẽ bị mất. Để canh chừng thời gian “tạm ngưng” có thể xảy ra trong lúc điền đơn, ông/bà nên thỉnh thoảng lưu lại thông tin đã điền vào những khoảng thời gian nhất định. Để lưu mẫu đơn, nhấp vào nút lệnh “Lưu” (Save) ở giữa cuối mẫu đơn. Lệnh này sẽ lưu tạm thời mẫu đơn của ông/bà. Để lưu mẫu đơn lâu dài, chọn nút lệnh “Lưu mẫu đơn vào tập tin” (Save Application to File). Sau đó, nhấp vào nút lệnh “Lưu” (Save) trên cửa số Tải tập tin (File Download). Xác định nơi để lưu lại mẫu đơn trên máy tính của ông/bà, duyệt đến nơi đã chọn, sau đó nhấp vào nút lệnh “Lưu” (Save) trên cửa sổ “Lưu như” (Save As). Hệ thống máy tính sẽ tải mẫu đơn của ông/bà đến nơi được chọn để lưu tập tin. Khi đơn được tải hoàn tất, ông/bà có thể nhấp vào lệnh “Đóng” (Close) để trở lại trang điền đơn. Ông/bà có thể sử dụng tuỳ chọn “Import Application Date” trên trang “Bắt đầu” (Getting Started) để tải về mẫu đơn mà ông/bà đã lưu trước đó. 

5. Tôi biết rằng tôi có thể tải hình thẻ của mình lên mẫu đơn. Vậy tôi phải dùng hình kỹ thuật số tiêu chuẩn như thế nào để có thể tải hình thành công?

Vui lòng tham khảo trang Những hướng dẫn về hình chụp - áp dụng cho các mẫu đơn xin thị thực trực tuyếnđể có thông tin chi tiết về cách sử dụng máy chụp hình kỹ thuật số và những yêu cầu đối với hình ảnh được quét.

6. Tôi thấy trên trang xác nhận có một chữ “X” ngay tại ô dán hình thẻ. Điều đó có nghĩa gì?

Điều đó có nghĩa là hình thẻ ông/bà tải lên đơn không thành công. Do đó, ông/bà cần phải nộp thêm một hình thẻ đúng tiêu chuẩn kèm với giấy xác nhận đã điền hoàn tất mẫu đơn DS-160 trực tuyến. Vui lòng kiểm tra với Đại Sứ Quán hay Lãnh Sự Quán nơi ông/bà nộp đơn để được hướng dẫn cụ thể cách dán hình thẻ vào giấy xác nhận của ông/bà. Kích cỡ hình thẻ có thể tìm thấy ở trang Những quy định về hình chụp. Nếu trên giấy xác nhận ông/bà in ra có kèm cả hình ảnh, điều đó có nghĩa là ông/bà đã tải hình lên đơn thành công. Tuy nhiên, khi đến phỏng vấn, ông bà cần phải mang theo ít nhất một hình thẻ rời đúng tiêu chuẩn. 

7. Tại sao tôi không lưu lại được những dữ liệu tôi đã sửa ở đường dẫn “sửa” trang kiểm tra thông tin (review page)?

Để lưu lại những dữ liệu được thay đổi từ trang kiểm tra thông tin (review page), ông/bà phải sử dụng những nút lệnh ở cuối mỗi trang để chuyển qua trang khác, thay vì sử dụng nút lệnh “quay lại”(back)/”đi tiếp”(forward) của trình duyệt web hoặc những nút lệnh bên trái màn hình.

8. Tôi có nên lưu mẫu đơn trước khi nhấp vào lệnh “gửi”?

NÊN! Nếu có thể, ông/bà nên lưu mẫu đơn vào ổ cứng máy tính hay vào CD của ông/bà trước khi gửi đơn. Làm như vậy sẽ có hai điều lợi. Thứ nhất, nếu Đại Sứ Quán hay Lãnh Sự Quán không chấp thuận đơn của ông/bà vì chưa điền hoàn chỉnh, chẳng hạn như, do mẫu đơn có những câu hỏi chưa trả lời hoặc do ông/bà quên chưa trả một câu hỏi cần thiết, ông/bà có thể truy cập lại mẫu đơn đã lưu để sửa lại câu hỏi chưa trả lời hoặc chưa hoàn chỉnh và gửi mẫu đơn điền đúng này đi mà không cần phải điền lại một mẫu đơn mới hoàn toàn. Thứ hai, nếu như ông/bà thường xuyên nộp đơn xin thị thực, ông/bà có thể cập nhật thông tin trên mẫu đơn đã lưu trước đó cho lần xin thị thực kế tiếp và gửi mẫu đơn đã được cập nhật này đi. Điều này sẽ giúp ông/bà tiết kiệm thời gian không phải điền lại những thông tin không thay đổi kể từ lần nộp đơn cuối cùng. 

9. Làm thế nào để lưu mẫu đơn?

Để lưu mẫu đơn, nhấp vào nút lệnh “Lưu” (Save) ở giữa cuối mẫu đơn. Lệnh này sẽ lưu tạm thời mẫu đơn của ông/bà. Để lưu mẫu đơn lâu dài, chọn nút lệnh “Lưu mẫu đơn vào tập tin” (Save Application to File). Sau đó, nhấp vào nút lệnh “Lưu” (Save) trên cửa số Tải tập tin (File Download). Xác định nơi để lưu lại mẫu đơn trên máy tính của ông/bà, duyệt đến nơi đã chọn, sau đó nhấp vào nút lệnh “Lưu” (Save) trên cửa sổ “Lưu như” (Save As). Hệ thống máy tính sẽ tải mẫu đơn của ông/bà đến nơi được chọn để lưu tập tin. Khi đơn được tải hoàn tất, ông/bà có thể nhấp vào lệnh “Đóng” (Close) để trở lại trang điền đơn. Ông/bà có thể sử dụng tuỳ chọn “Import Application Date” trên trang “Bắt đầu” (Getting Started) để tải về mẫu đơn mà ông/bà đã lưu trước đó.

10. Tôi có phải mang theo toàn bộ mẫu đơn đã điền hay chỉ mang theo giấy xác nhận đến buổi phỏng vấn?

Ông/bà không nên mang theo toàn bộ mẫu đơn đã điền. Giấy xác nhận là những gì cần thiết để truy xuất thông tin ông/bà đã điền trong đơn. Ông/bà phải mang theo giấy xác nhận này trong suốt quy trình xét duyệt thị thực. Nếu không có giấy xác nhận, chúng tôi không thể truy xuất thông tin trên đơn và không thể xét duyệt đơn xin thị thực của ông/bà. Bên cạnh đó, ông bà cần phải mang theo ít nhất một hình thẻ rời đúng tiêu chuẩn khi đến phỏng vấn.


11. Tôi đi du lịch theo nhóm hoặc đi cùng gia đình. Tôi có thể tạo mẫu đơn cho cả gia đình hoặc cả nhóm không?

Có thể. Trên trang “Cảm Ơn”, ông/bà sẽ thấy một tuỳ chọn để tạo mẫu đơn cho gia đình hay cho một nhóm. Khi ông/bà chọn tuỳ chọn này, một số thông tin nào đó trong đơn của ông/bà, chẳng hạn như nơi đến, sẽ tự động nhập vào và hiển thị trên mẫu đơn mới. Lưu ý rằng nếu ông/bà sử dụng tuỳ chọn này, ông/bà cần phải tạo một mẫu đơn riêng cho từng thành viên trong gia đình hoặc cho từng cá nhân đi cùng với ông/bà.

12. Nếu tôi sử dụng tuỳ chọn trên trang “Cảm Ơn” để tạo mẫu đơn cho nhóm hay cho gia đình, liệu tôi có thể chỉnh sửa những thông tin mà hệ thống tự động nhập vào?

Có thể. Chẳng hạn như nếu một trong những người đi cùng có họ hoặc quốc tịch khác nhau, ông/bà có thể thay đổi thông tin này trên đơn trước khi gửi đi.

13. Khi tôi sử dụng mẫu đơn trực tuyến DS-160 để nộp đơn xin thị thực không di dân, tôi có phải điền thêm mẫu đơn nào khác không?

Không. Tuy nhiên có hai ngoại lệ. Khi nộp đơn tại Đại Sứ Quán hay Lãnh Sự Quán áp dụng Mẫu đơn xin Thị thực Điện tử Trực tuyến DS-160, ông/bà chỉ sẽ điền (1) mẫu đơn này mà thôi. Đối với những Đại Sứ Quán hay Lãnh Sự Quán đã chuyển sang áp dụng quy trình mới này, mẫu đơn DS-160 đã thay thế tất cả những mẫu đơn DS-156, DS-157, DS-158, và DS-3032. Do đó những mẫu đơn này sẽ không còn cần thiết nữa. LƯU Ý: Trường hợp ngoại lệ áp dụng cho những người nộp đơn xin thị thực Hôn phu/Hôn thê (K-1/2); họ vẫn phải sử dụng mẫu đơn DS-156 và DS-156K. Trường hợp xin thị thực Hợp tác Thương mại/Đầu tư theo Hiệp ước sẽ được giải thích ở câu hỏi số 14 dưới đây.

Ông/bà cần phải kiểm tra tại trang web của Đại Sứ Quán hay Lãnh Sự Quán nơi ông/bà nộp đơn xin thị thực không di dân để biết thêm thông tin về quy trình xét duyệt đơn ở đó. Các Đại Sứ Quán và Lãnh Sự Quán trên toàn thế giới sẽ lần lượt chuyển sang áp dụng mẫu đơn DS-160 từng nơi một. Vì vậy, tại những Đại Sứ Quán nào chưa chuyển sang sử dụng mẫu đơn DS-160 trực tuyến, ông/bà vẫn sẽ tiếp tục nộp kèm những mẫu đơn bổ sung nếu cần thiết.

14. Tôi nộp đơn xin thị thực E, Hợp tác Thương mại/Đầu tư. Tôi có cần phải điền mẫu đơn DS-160 cùng với DS-156E hay không?

Tùy trường hợp. Nếu ông/bà là Chủ đầu tư nộp đơn xin thị thực E-2, tất cả những gì ông/bà cần làm là điền hoàn tất mẫu đơn DS-160. Nếu ông/bà là Thương nhân theo Hiệp ước xin thị thực hợp tác thương mại E-1, hoặc nếu ông/bà là nhân viên cấp Điều hành/nhân viên cấp Quản lý/nhân viên chủ chốt của công ty, ông/bà cần phải điền hoàn tất mẫu DS-156E. (Có thể trong năm tới, mẫu đơn mới DS-161, mẫu đơn Thông tin Doanh nghiệp dành cho thị thực loại E, sẽ được áp dụng. Mẫu đơn này cho phép ông/bà hoặc chủ lao động của ông/bà điền hoàn tất mẫu đơn trực tuyến và gửi mẫu đơn này đến Bộ Ngoại Giao. Cho đến thời điểm đó, tất cả các thương nhân, nhân viên cấp điều hành, nhân viên cấp quản lý và các nhân viên chủ chốt của công ty nộp đơn xin thị thực loại E theo hiệp ước cần phải điền hoàn tất và nộp mẫu DS-156E.)

BP Thị thực không di dân - LSQ Hoa Kỳ

Các tin khác: